Mại dâm: Tự nhiên và tự nguyện?

Gần đây, một số nhà hoạt động xã hội cấp tiến lên tiếng đề xuất hợp pháp hoá mại dâm ở Việt Nam. Quan điểm này hầu hết xuất phát từ những mục tiêu và giá trị tốt đẹp mà số đông đều công nhận, nhưng lại dựa trên những ngộ nhận căn bản về tính chất và cơ sở xã hội của mại dâm. Nếu việc hợp pháp hoá mại dâm được thông qua trên cơ sở những ngộ nhận này, hậu quả của nó thật khó lường.

Ngộ nhận 1: Mại dâm là tự nguyện.

Trên báo chí gần đây xuất hiện không ít những vụ “xì-căng-đan” của những người đẹp“chân dài” sa vào vòng lao lý khi bị cho là dính líu đến việc kinh doanh thân xác. Phần đông dư luận cho rằng việc các cô làm là hành vi đồi bại, gây tổn hại đạo đức xã hội. Một số người cấp tiến hơn lại cho rằng việc các cô làm với thân thể mình là quyền tự do lựa chọn của các cô, và xã hội cần tôn trọng quyền tự do đó.

Cho dù là lên án hay ủng hộ, hầu hết những lập luận trên đều mặc định rằng những người làm nghề mại dâm là tự nguyện. Tuy nhiên, ít ai biết được những người mại dâm thực sự là ai, họ bán dâm bằng cách nào, với mục đích gì, và hoàn cảnh của họ ra sao…

Việc điều tra và thống kê chính xác về mại dâm là không tưởng, bởi đây không phải là một ngành hoạt động công khai. Trên thế giới, số liệu quốc tế được trích dẫn nhiều nhất là từ nghiên cứu về mại dâm ở 9 quốc gia[1] Hoa Kỳ, Canada, Colombia, Đức, Mexico, Nam Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Zambiado tiến sĩ tâm lý học Melissa Farley (Mỹ) chủ trì thực hiện năm 2003. Ở Việt Nam, nghiên cứu về mại dâm do bộ Lao động thương binh xã hội kết hợp với Cục phòng chống tệ nạn xã hội thực hiện năm 2012[2], mặc dù được thực hiện trên quy mô nhỏ, có thể coi là tổng hợp toàn diện nhất hiện có về mại dâm ở các thành phố lớn. Bên cạnh những đặc thù của mỗi quốc gia, cả hai nghiên cứu này cùng cho thấy một số xu hướng chung:

Thứ nhất, đa số người bán dâm là phụ nữ. Nam giới có tham gia hoạt động bán dâm, nhưng tỉ lệ thấp hơn nhiều. Ở Việt Nam, đa số nam giới tham gia mại dâm quan hệ đồng tính, trong khi phụ nữ bán dâm chủ yếu cho khách hàng khác giới.

Thứ hai, đa số những phụ nữ hành nghề mại dâm không phải là những cô gái chân dài với các khách hàng đại gia ở những khách sạn 5 sao. Một phần không nhỏ trong số họ là phụ nữ bán dâm bằng cách đứng đường, qua điện thoại hay internet, làm việc trong nhà chứa, hay các nhà hàng, tiệm mát-xa, câu lạc bộ thư giãn giải trí trá hình.

Thứ ba, phần đông những người hoạt động mại dâm gặp nhiều tổn thương về sức khỏe và tinh thần trong quá trình làm việc. Những tổn thương này có thể do người quản lý, khách hàng gây ra, cũng có thể xuất phát từ tâm lý không thoải mái của chính họ. Những người nữ làm nghề mại dâm chịu rủi ro hơn so với các “đồng nghiệp”nam.

Thứ tư, không phải tất cả những người bán dâm đều làm nghề này một cách tự nguyện.

Phần đông tham gia hoạt động mại dâm do không có lựa chọn tốt hơn, do bị ép buộc, hoặc bị lừa gạt. Đa số phụ nữ mại dâm xuất thân từ các gia đình kinh tế khó khăn hoặc có mâu thuẫn. Một phần trong số họ là nạn nhân của các đường dây buôn bán người.

Hơn nữa, ngay cả khi một số phụ nữ (và nam giới) chủ động và tự nguyện lựa chọn nghề mại dâm, liệu ta có thể khẳng định rằng đó là sự lựa chọn của những người tự do? Sẽ là ngoại lệ nếu một thanh niên khoẻ mạnh, có trình độ, có các mối quan hệ xã hội vững chắc, với nhiều lựa chọn nghề nghiệp hay đối tượng quan hệ tình cảm quyết định làm công việc nhiều rủi ro và thường bị xã hội lên án hoặc coi rẻ.

Khi không dựa trên các số liệu và bằng chứng thực tế, kết luận rằng việc hành nghề mại dâm là lựa chọn tự do của cá nhân là một ngộ nhận vội vã. Một người thật sự tự do sẽ lựa chọn làm việc mà họ yêu thích, không phải vì nhu cầu mưu sinh hay tồn tại. Thực tế, việc nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, làm nghề mại dâm, dù là tự nguyện hay bị cưỡng ép, lừa gạt, đều phản ánh xã hội thiếu tự do, thiếu sự lựa chọn cho phần đông, hoặc một nhóm người cụ thể.

Ngộ nhận 2: Mại dâm là tự nhiên.

Nhiều người tin rằng mại dâm là một nhu cầu tự nhiên của xã hội loài người. Bằng chứng là nghề mại dâm đã xuất hiện từ thời cổ đại, và vẫn tồn tại qua hàng nghìn năm, bất chấp vô vàn biến động của lịch sử, vượt qua cả những sự kỳ thị, cấm đoán, thậm chí trừng phạt khắc nghiệt nhất…

Mặc dầu vậy, không phải tất cả những gì tồn tại lâu đời đều là tự nhiên. Chúng ta chỉ được xem một hiện tượng là “tự nhiên” nếu nó xuất phát từ nguồn gốc sinh học. Chắc chắn mại dâm không đơn thuần xuất phát từ nhu cầu sinh lý, vì sinh học không thể lý giải vì sao đại đa số những người mua dâm là nam giới, chứ không phải phụ nữ. Sinh học càng không thể lý giải vì sao đa phần người bán dâm là phụ nữ nghèo, hay thuộc tầng lớp thấp, hoặc nam giới quan hệ đồng tính. Sinh học cũng không thể lý giải vì sao ở một số xã hội hoạt động mại dâm lại phổ biến hơn một số xã hội khác.

Chấp nhận mại dâm là tự nhiên có nghĩa là chúng ta chấp nhận những đặc điểm văn hoá, kinh tế xã hội tạo điều kiện cho mại dâm hình thành, tồn tại và phát triển. Không đặt câu hỏi về sự tồn tại hay đặc điểm của hoạt động mại dâm cũng là chấp nhận những đặc tính phi tự nhiên, thậm chí đôi khi là phi lý của xã hội.

Sự thật là sự hình thành và tồn tại của mại dâm phụ thuộc rất lớn vào bối cảnh xã hội. Trong cuốn Một nửa bầu trời (Half the sky) của cặp vợ chồng nhà báo Nicholas Kristof và Sheryl WuDunn, bất bình đẳng giới và phân biệt giai cấp là các tác nhân dẫn đến mại dâm và hiếp dâm ở Ấn Độ[3]. Trong khi dục vọng của phụ nữ bị coi là tiêu cực, đáng xấu hổ, thì xã hội này không phê phán dục vọng của đàn ông, thậm chí công nhận quyền được thoả mãn dục vọng ấy. Trong khi các cô gái trẻ thượng lưu phải giữ gìn trinh tiết cho hôn nhân thì các nam thanh niên có quyền thoả mãn nhu cầu sinh lý. Và họ thoả mãn nhu cầu ấy bằng cách mua dâm hoặc hiếp dâm. Trên danh nghĩa, mại dâm ở Ấn Độ là trái phép, nhưng trên thực tế, các nhà chức trách địa phương cho phép các nhà chứa tồn tại, vì đó là cách để bảo vệ các cô gái con nhà giàu khỏi bị cưỡng hiếp. Các cô gái tầng lớp thấp, hoặc bị cưỡng ép, hoặc tự nguyện đánh đổi trinh tiết – hay cái mà xã hội cho là phẩm giá – để mưu sinh. Tương tự, ở Trung Quốc, khi mất cân bằng giới tính nghiêm trọng khiến hàng triệu nam thanh niên không lấy được vợ, các dịch vụ mại dâm nở rộ dưới nhiều hình thức. Các thành phố lớn phía Bắc là điểm đến mơ ước của các cô gái nông thôn, đa phần từ miền Nam, muốn thoát cảnh lao động chân tay cực nhọc. Các thanh niên nông thôn ở Quảng Tây, Vân Nam,không thể lấy được vợ cùng địa phương, phải trông chờ vào các đường dây buôn bán phụ nữ từ các nước lân cận.

Nếu đặt câu hỏi nghiêm túc về nguồn gốc của mại dâm ở Việt Nam, ta sẽ nhận ra nó cũng xuất phát từ một số đặc điểm rất không tự nhiên của xã hội chúng ta. Xã hội Việt Nam dưới sự ảnh hưởng sâu sắc của Tống Nho có cái nhìn bảo thủ với tình dục, cho rằng tình dục ngoài hôn nhân và ngoài mục đích duy trì nòi giống là đáng phê phán, và trinh tiết là một giá trị đạo đức của phụ nữ. Tư tưởng này cũng đặt ra những chuẩn mực cứng nhắc cho hình thái hôn nhân và gia đình, vai trò của nam giới, nữ giới, cũng như tôn ti trật tự trong xã hội. Trong khi các thiếu nữ phải dè dặt trong quan hệ tình dục để được tiếng “ngoan”, bạn trai hay thậm chí các vị hôn phu của họ sẽ cần đến các dịch vụ “ăn bánh trả tiền” để thoả mãn nhu cầu. Khi xã hội cho rằng nhu cầu “được phục vụ” của đàn ông là đương nhiên, thậm chí dục vọng của nam giới là biểu tượng của nam tính và quyền lực, người ta không phê phán những người đàn ông mua dâm mà chỉ lên án những phụ nữ bán dâm suy đồi đạo đức. Người ta cũng thấy “bình thường” khi có những người phụ nữ cung cấp dịch vụ tình dục cho đàn ông, nhưng lại thấy “bất thường” khi đàn ông bán dâm cho phụ nữ.

Cũng theo chuẩn mực về hôn nhân truyền thống, hôn nhân đồng tính là trái đạo đức. Những người đàn ông đồng tính không thoát khỏi vai trò làm chồng, làm cha và trụ cột gia đình truyền thống, sẽ cần đến những mối quan hệ vụng trộm “ngoài luồng”. Điều này lý giải vì sao gần 90% những người mại dâm nam bán dâm cho người đồng giới[4].

Một đặc điểm nữa ở xã hội Việt Nam dẫn đến việc nhiều cô gái chủ động lựa chọn quan hệ tình dục vì tiền là quan niệm về chữ hiếu và đức hy sinh của người phụ nữ. Hình tượng Thuý Kiều bán mình chuộc cha được coi là một tấm gương về đạo đức phần nào phản ánh quan niệm xã hội về bổn phận của người phụ nữ trong gia đình. Trong khi thu nhập cao và nhu cầu tình dục của bản thân là những động cơ để nam giới bán dâm, một nửa số phụ nữ bán dâm làm nghề này để giúp đỡ kinh tế cho gia đình, chăm lo cho cha mẹ hoặc con cái.

Bên cạnh đó, nguồn cung mại dâm còn xuất phát từ nhiều nguyên nhân đa dạng khác. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các địa phương và việc nới lỏng rào cản nhập cư cũng là lực hút các thanh niên nông thôn đến mưu sinh ở các thành phố lớn. Không có bằng cấp, ít mối quan hệ, thiếu vốn sống… là những trở ngại để họ tiếp cận công ăn việc làm ổn định[5]. Những “hot boy nổi loạn” không chỉ là kết quả phóng tác của điện ảnh, mà phần nào phản ánh thực tế có phần phũ phàng của không ít thanh niên tỉnh lẻ nơi thành thị. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mại dâm gia tăng tỉ lệ thuận với tình trạng thất nghiệp[6]. Thêm nữa, chủ nghĩa vật chất, văn hoá tiêu thụ cũng khiến một số thanh niên trẻ lựa chọn công việc nhàn hạ, dễ kiếm tiền hơn để thoả mãn nhu cầu vật chất cao hơn.

Tóm lại, mại dâm không đơn thuần tuân theo một quy luật cung cầu tự nhiên, không xuất phát từ bản năng con người, mà chịu sự chi phối của vô vàn các biến số kinh tế xã hội, chính trị, trong đó có cả những hệ thống giá trị đi ngược với tư tưởng tự do.

Ngộ nhận 3: Mại dâm là vô hại

Một bài viết ủng hộ cho việc hợp pháp hoá mại dâm khẳng định: “hoạt động mua bán dâm không vi phạm quyền con người của ai, không làm thấp giá trị của ai, không làm tổn hại giá trị đạo đức tốt đẹp nào, và không phải là nguyên nhân phá vỡ gia đình.[7]

Thực tế, ngành mại dâm không công bằng, trong sạch và vô hại như chúng ta nghĩ (hoặc mong đợi).

Thứ nhất, mại dâm là một mối đe doạ sức khoẻ cộng đồng. Quan hệ tình dục dưới hình thức trao đổi thương mại mang nhiều rủi ro hơn so với quan hệ tình dục thông thường. Không chỉ những người trực tiếp tham gia vào những giao dịch tình dục phải chịu rủi ro về sức khoẻ, tinh thần[8]. Từ lâu, các nghiên cứu y tế công cộng đã khẳng định mại dâm là một trong những cơ chế chủ yếu lây truyền HIV ở cộng đồng. Ở Việt Nam, các tổ chức y tế địa phương và quốc tế đều chưa tìm được giải pháp hữu hiệu để đảm bảo tình dục an toàn với những người mại dâm[9].

Thứ hai, dịch vụ mại dâm tạo “đầu ra” cho hoạt động buôn bán người. Ngay cả những nơi có hệ thống pháp luật chặt chẽ như Bắc Mỹ hay Tây Âu, Bắc Âu, một bộ phận không nhỏ những người bán dâm được đưa vào nghề thông qua các đường dây tội phạm[10]. Việt Nam là một trong những nước được các tổ chức quốc tế báo động về tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em. Đặc biệt gần đây, nhiều trẻ em được đưa vào hoạt động mại dâm hơn để phục vụ các khách hàng lo sợ lây nhiễm HIV từ những người bán dâm “đã qua sử dụng”[11].

Nguy cơ thứ ba, khó thấy, khó đo lường, và nghiêm trọng hơn, nằm ở mối quan hệ giữa mại dâm với những cấu trúc xã hội bất công và hệ thống giá trị lạc hậu. Như đã giải thích ở phần trên, sự tồn tại của mại dâm phản ánh và củng cố những mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ, người giàu với người nghèo, và những quan niệm cổ hủ về tình dục, trinh tiết, trách nhiệm, hôn nhân, gia đình, và nhận thức bị bóp méo về quyền lực, vật chất… Khi chúng ta coi mại dâm là “bình thường” và vô hại, vô tình ta cũng đồng loã cho sự tồn tại của những định kiến và bất công sâu sắc trong xã hội.

Ngộ nhận 4: Hợp pháp hoá mại dâm là cần thiết

Trên thế giới, những nước chủ trương hợp pháp hoá mại dâm chủ yếu hướng đến hai mục đích: ngăn chặn các bệnh lây lan qua đường tình dục và bảo vệ người bán dâm khỏi bị lạm dụng. Hà Lan, Đức, Mỹ là những quốc gia đi đầu trong việc áp dụng mô hình “hợp pháp hoá để quản lý” (legalize and regulate). Người ta cho rằng khi những người mại dâm đăng ký hoạt động với chính quyền, họ sẽ phải tuân thủ các nguyên tắc về an toàn tình dục. Họ cũng sẽ có cơ sở pháp lý để đòi hỏi các chính sách bảo hộ lao động, và từ chối các hành vi lạm dụng của người quản lý hoặc khách hàng. Ngoài ra, khi mại dâm được coi là một ngành nghề hợp pháp, xã hội sẽ có cái nhìn cởi mở và bao dung hơn với những người bán dâm.
Trên thực tế, sau hơn một thập kỷ áp dụng chính sách hợp thức hoá mại dâm, mô hình Hà Lan đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Nghiên cứu năm 2009 của giáo sư Dina Siegel thuộc đại học Utrecht, Hà Lan, cho thấy thái độ xã hội đối với những người bán dâm không hề được cải thiện, trong khi tình trạng buôn bán phụ nữ trái phép vào Hà Lan lại gia tăng kể từ khi mại dâm được hợp pháp hoá[12]. Nghiên cứu của Farley cũng cho thấy việc hợp pháp hoá không đảm bảo an toàn cho những người làm nghề mại dâm[13]. Nguyên nhân dẫn đến việc thử nghiệm thất bại này là do các nhà hoạch định chính sách chưa nắm rõ đặc thù và mức độ phức tạp của giới mại dâm. Khi đề cập đến ngành mại dâm nói chung, người ta không phân biệt được những người bán dâm tự nguyện và những người bị ép buộc. Việc thay đổi pháp luật liên quan đến mại dâm cũng không đi đôi với các biện pháp quản lý người nhập cư. Trước những hệ luỵ của việc hợp pháp hoá, Hà Lan, Úc, New Zealand đều đang xem xét điều chỉnh lại chính sách đối với mại dâm.

Một hướng tiếp cận đang được nhiều nước xem xét học tập là mô hình Thuỵ Điển – đó là phi tội phạm hoá người bán dâm, có nghĩa là không bắt giữ hay truy cứu trách nhiệm hình sự với người bán dâm. Cách làm này phản ánh quan điểm cởi mở hơn đối với những người làm nghề mại dâm, và nhìn nhận vấn đề cốt lõi nằm ở phía người mua dâm. Song song với đó, nhà nước vẫn cấm việc mua dâm, kinh doanh nhà chứa và môi giới mại dâm, để hạn chế dịch vụ này phát triển. Tuy nhiên, theo nghiên cứu mới nhất của Bộ Y tế và Phúc lợi Thuỵ Điển[14], mại dâm ở Thuỵ Điển vẫn chưa có dấu hiệu thu hẹp rõ rệt sau khi chính sách này được ban hành, do các giao dịch trên Internet và các thiết bị di động cùng hoạt động buôn bán người ngày càng tinh vi và khó kiểm soát hơn. Hơn nữa, việc cấm mua dâm cũng khiến người bán dâm khó tìm khách hàng hơn và nhận thu nhập thấp hơn.
Khác với Thuỵ Điển, Phần Lan đưa ra một phương án để phân biệt rõ hơn những người bán dâm tự nguyện và những người bị ép buộc. Ở Phần Lan, chỉ những người mua dâm quan hệ có chủ ý với trẻ em hay phụ nữ bị bắt cóc hoặc buôn bán trái phép mới phải chịu phạt. Tuy nhiên, đây là một biện pháp rất khó thực thi, do không thể xác định người mua dâm có biết rõ nguồn gốc của người bán dâm hay không.

Rõ ràng, trên thế giới, chưa có quốc gia nào, kể cả những nước có trình độ dân trí cao và hệ thống pháp luật nghiêm minh, áp dụng thành công việc hợp pháp hoá và quản lý mại dâm. Vì thế, đưa ra đề xuất hợp pháp hoá mại dâm ở Việt Nam vào thời điểm này e rằng quá vội vàng. Nếu chúng ta thật sự muốn hướng đến một xã hội công bằng và tự do hơn, việc nên làm trước tiên là thay đổi những quan niệm bảo thủ và cứng nhắc về giới, tình dục, hôn nhân, gia đình, và tạo ra nhiều cơ hội học tập cũng như lựa chọn nghề nghiệp tốt hơn cho thanh niên, đặc biệt là phụ nữ.

*****

Credit: My Do

Ảnh: youthconnect

Tài liệu tham khảo:

[1] Farley, Melisa et al., Prostitution and Trafficking in Nine Countries – An Update on  Violence and Post traumatic Stress Disorder,Journal of Trauma Practice, Vol 2, Issue 3/4, 2003, p33-74.

[2] Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội và Vụ Bình đẳng Giới thuộc Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Mại dâm và Di biến động nhìn từ góc độ giới, Hà Nội, 2/2012

[3] Kristof, Nicholas and Sheryl WuDunn,Half The Sky: Turning Oppression Into Opportunity for WomenWorldwide, Vintage Books, 2010, chapter 3.

[4] Xem (2)

[5] Lim, Lin Lean, The Sex Sector: The Economic and Social Bases of Prostitution in Southeast Asia, International Labour Office, Geneva, 1998

[6] Xem (5)

[7] Lê, Bình, Hợp pháp hoá mại dâm việc đúng nên làm, Diễn Ngôn, 28/06/2013

[8] Xem (1)

[10] Siegel, Dina, Human trafficking and legalized prostitution in the Netherlands, Temida 2009

[11]UNIAP, The Trafficking & MigrationSituation in Vietnam, truy cập ngày 20/08/2013 từ http://www.no-trafficking.org/vietnam.html

[12] Xem (10)

[13] Xem (1)

[14] Swedish National Board of Health and Welfare, Prostitution in Sweden 2007www.socialstyrelsen.se, 11/2008

Leave a Reply