Tổng hợp về tác gia nữ quyền Simone de Beauvoir

“Người ta không phải sinh ra đã là đàn bà, mà là trở thành đàn bà.”

2.jpg

Lời tuyên bố đầy thách thức của Simone de Beauvoir trong tác phẩm nổi tiếng “Giới tính thứ hai” (The Second Sex) đã góp phần đập tan quan niệm phụ nữ sinh ra đã mang tính nữ. Mặc dù cả cuộc đời mình bà khẳng định mình không phải một nhà nữ quyền (feminist), do bà tin danh xưng này đi ngược với niềm tin xã hội chủ nghĩa của mình, các lý thuyết Beauvoir đưa ra có sức ảnh hưởng sâu sắc lên tư tưởng nữ quyền.

Vào năm 1926, Beauvoir nhập học tại trường Đại học Paris, nơi bà theo học chuyên ngành triết học và gặp bạn đời, Jean-Paul Sartre. Mặc dù cả hai đều là những tượng đài quan trọng trong trường phái hiện sinh hậu chiến tranh thế giới thứ 2, Sartre được được nhớ đến với triết học hiện sinh. Còn Beauvoir lại được nhớ đến với những đóng góp cho nữ quyền luận, đặc biệt là chủ nghĩa hiện sinh nữ quyền.

Kiệt tác “Giới tính thứ hai” đã miêu tả những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh nữ quyền. Beauvoir đã đưa ra lời khẳng định cơ bản rằng phụ nữ tồn tại trong xã hội với tư cách là “Người khác” của đàn ông.

Đối với Beauvoir, tất cả sự tồn tại con người được chia ra “siêu nghiệm” và “nội tại”. Siêu nghiệm là khả năng một cá nhân có thể vượt thoát khỏi những giới hạn của bản thân và chủ động theo đuổi những mục tiêu như viết lách hoặc khám phá. Trong khi đó, nội tại là tiếp tục duy trì trong trạng thái đó. Bà lập luận rằng chỉ đàn ông mới có thể thể hiện sự siêu nghiệm, còn phụ nữ bị buộc phải sống một cuộc đời nội tại thiếu sáng tạo.

Nửa đầu tiên của quyển sách tìm hiểu “Những sự thật và niềm tin hoang đường” về phụ nữ từ nhiều góc nhìn khác nhau, khẳng định phụ nữ có những trải nghiệm khác biệt với đàn ông như kinh nguyệt hay thai nghén. Do vậy, đàn ông nhìn nhận phụ nữ như vật thể xa lạ – hay “Người khác”.

9780099595731.jpg

Beauvoir giải thích những “sự thật” này về phụ nữ đã tạo ra niềm tin hoang đường về “tính nữ vĩnh cửu” như thế nào. Nó miêu tả phụ nữ như về bản chất là thụ động và luôn quan tâm săn sóc người khác. Niềm tin hoang đường này chứa đầy những tiêu chuẩn kép khiến cho phụ nữ không thể nào đáp ứng những mong đợi của xã hội. Ví dụ, Beauvoir chỉ ra những định kiến mâu thuẫn về phụ nữ làm mẹ/sinh con như Đức mẹ Maria, hay về các biểu tượng sự chết như “La Llorona” – người dìm chết con mình dưới sông sau khi bị chồng bạo hành.

Nửa sau của cuốn sách bắt đầu với một tuyên bố đầy thách thức rằng “Không phải người ta sinh ra đã là đàn bà, mà là con người biến thành đàn bà”. Trong phần này, Beauvoir mở rộng triết học hiện sinh, khẳng định tính nữ chỉ là một sản phẩm của xã hội khiến cho phụ nữ trở nên bị thống trị bởi đàn ông.

Beauvoir tin rằng đàn ông sẽ không bao giờ có thể hoàn toàn áp chế phụ nữ vì mỗi cá nhân – bất kể mang giới tính gì – sẽ luôn có sự tự do tuyệt đối. Bà tin tất cả các cá nhân, kể cả phụ nữ, có khả năng mang tự do ý chí kể cả khi bị khách thể hóa và bị cô lập trong xã hội.

Beauvoir kết thúc quyển sách với việc đề ra những hành động cứng rắn phụ nữ phải làm để đạt được sự giải phóng hiện sinh. Trước tiên, họ phải tham gia vào những mục tiêu do chính họ đặt ra bất chấp nỗi sợ hãi trước sự phủ nhận và tình trạng bất ổn định. Thêm vào đó, phụ nữ nên tiếp cận với việc làm, các biện pháp phòng tránh thai, giáo dục và bất kì loại hình dịch vụ nào giúp cá nhân phát triển. Phần cuối của quyển sách là nền tảng cho nữ quyền làn sóng thứ hai. Những tư tưởng triết học của bà đã thúc giục phụ nữ ở cuối thế kỉ 20 yêu cầu quyền việc làm, nạo phá thai, phổ cập chăm sóc trẻ nhỏ và bình đẳng trong hôn nhân.

Mặc dù tác phẩm của Beauvoir là bước tiến lớn cho phụ nữ, các nhà triết gia nữ quyền đương thời như Judith Butler vẫn chỉ trích quyển sách này. Theo bài viết “Giới tính và Giới trong Giới tính thứ hai của Simone de Beauvoir”, Butler khẳng định vấn đề chính với tác phẩm của Beauvoir là nó phân biệt giữa giới và giới tính mà không nhìn nhận rằng giới chỉ xuất hiện để giữ vững cấu trúc quyền lực.

Butler nhìn xa hơn những lập luận siêu hình về giới và giới tính và tập trung vào chính trị bản sắc liên quan đến các thuật ngữ này. Butler khẳng định rằng Beauvoir ủng hộ chính trị bản sắc. Điều này không tốt vì hai lý do: thứ nhất, nó giả định trước một bản sắc dựa trên trải nghiệm chung nhưng lại loại trừ các yếu tố nhất định như giai cấp, chủng tộc, tính dục, và các nhóm thiểu số khác. Thứ hai, bản chất miêu tả của chính trị bản sắc sẽ đặt ra một số giả định về thế nào là một người phụ nữ “tốt”, một người phụ nữ “chân chính”.

Bất chấp những phê bình này, Beauvoir vẫn là một tượng đài quan trọng trong nữ quyền luận. Bà dành gần như trọn thập kỉ 70 để làm việc với Phong trào Giải phóng của Phụ nữ Pháp và cuối cùng cũng tuyên bố mình là một nhà nữ quyền vào năm 1972. Quãng đường hoạt động và viết lách của Beauvoir ảnh hưởng đến phụ nữ thời đó và sẽ tiếp tục ảnh hưởng phong trào nữ quyền ngày nay.

Source: Femmagazine

Leave a Reply