Tất cả những gì bạn cần biết về bốn làn sóng nữ quyền

Thách thức lớn nhất trong việc hiểu được chủ nghĩa nữ quyền có thể chính là việc tư tưởng và giáo lý của nó thay đổi theo thời gian, tạo nên những “làn sóng” nữ quyền tách biệt. Thêm vào đó, không phải mỗi làn sóng đều có một khung thời gian rõ ràng, mà mỗi phong trào lại được định nghĩa rõ ràng hơn bằng mục đích và cơ chế hoạt động hơn là bằng con số thời gian cụ thể.

Nhìn chung, có ba làn sóng nữ quyền được công nhận, tập trung vào chính trị, văn hóa và học thuật. Hiện cũng có làn sóng nữ quyền thứ tư tập trung vào công nghệ nhưng ít được công nhận rộng rãi hơn.

Làn sóng nữ quyền thứ nhất bắt đầu vào giữa thế kỉ 19, chủ yếu tại Anh và Mỹ, tập trung vào quyền bầu cử của phụ nữ. Ở châu Âu, công cuộc giành quyền của phụ nữ mau chóng lan rộng, bắt đầu bằng thuộc địa Anh, New Zealand vào năm 1893. Làn sóng nữ quyền này tập trung vào quyền bầu cử cho đến khi bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ nhất vào năm 1914, khi này nhiều nhà hoạt động vì quyền phụ nữ chuyển sự quan tâm sang vấn đề chiến tranh.

22101730695_6d42bb50ac_o

Ở Mỹ, các chiến dịch đòi quyền bầu cử của phụ nữ bắt đầu trong phong trào bãi nô. Thực tế, những người ủng hộ Tuyên ngôn Cảm xúc là những người ủng hộ bãi nô như Frederick Douglass – một nhà hoạt động chính và nô lệ bỏ trốn, một người tự học – và Sojourner Truth – một nhà nữ quyền da đen từng có bài diễn thuyết nổi tiếng “Tôi không phải là phụ nữ à?” tại Hội nghị Phụ nữ năm 1851. Tuyên ngôn Cảm xúc là tài liệu được viết tại Hội nghị Seneca vận động cho quyền vốn có của phụ nữ theo đúng những gì được chỉ ra trong Tuyên ngôn Độc lập.

Cuộc tranh cãi về Tu chính án thứ 15 về việc ai được phép bỏ phiếu tại Mỹ cuối cùng dẫn đến việc những người kêu gọi bãi nô và những người kêu gọi quyền bầu cử cho phụ nữ chia rẽ. Thực tế, những người đòi quyền bầu cử cho phụ nữ đã tự lập nên Hiệp hội Bầu cử Phụ nữ Mỹ Quốc gia vào 1890. Lập luận cơ bản của họ là họ không muốn đàn ông da đen “thấp kém” thống trị phụ nữ da trắng. Susan B. Anthony từng có câu phát biểu nổi tiếng và cộc cằn: “Tôi tự sẽ chặt tay phải nếu tôi phải đấu tranh hay yêu cầu quyền bỏ phiếu cho dân da đen mà không phải là phụ nữ.”

Cuối cùng, làn sóng nữ quyền thứ nhất ở Mỹ lên đến cao trào bằng sự thông qua Tu chính án thứ 19 vào năm 1920, bảo đảm quyền được bỏ phiếu cho phụ nữ. Tuy nhiên, phần lớn phụ nữ trong phong trào này là người da trắng, do đó, họ mang giọng điệu phân biệt chủng tộc và không muốn phụ nữ da màu cũng được bầu cử.

Sự tham gia của phụ nữ vào Chiến tranh Thế giới thứ hai và Phong trào quyền Dân sự tiền thân cho làn sóng nữ quyền thứ hai xảy ra vào những năm 60 và 70. Làn sóng nữ quyền này có đặc điểm quan tâm đến công bằng xã hội và kinh tế. Làn sóng nữ quyền thứ nhất tập trung chủ yếu vào chính trị, nhưng làn sóng thứ hai khuyến khích phụ nữ đấu tranh cho bình đẳng ở mọi khía cạnh xã hội, bao gồm cả trong hộ gia đình. Quyền “Giới tính thứ hai” của Simone de Beauvoir và “Bí ẩn nữ tính” của Betty Friedan là hai tác phẩm phôi thai ảnh hưởng lên tư tưởng nữ quyền giai đoạn này.

tải xuống.jpg

Đến những năm 1960, phong trào phụ nữ bắt đầu chia thành hai nhóm: nữ quyền bình đẳng và nữ quyền cực đoan. Nữ quyền bình đẳng yêu cầu bình đẳng trong nơi làm việc cũng như ở nhà, trong khi nữ quyền cực đoan tập trung muốn thay đổi triệt để xã hội phụ quyền. Nữ quyền bình đẳng ủng hộ các chính sách như luật chống phân biệt đối xử tại thị trường lao động, trong khi nữ quyền cực đoan bỏ qua chính sách mà tìm kiếm giải pháp phá bỏ vai trò giới và bắt đầu một cuộc cách mạng nữ quyền theo đúng nghĩa đen.

Vào năm 1969, Tổ chức Phụ nữ Quốc gia tổ chức Hội nghị Đoàn kết Phụ nữ để xóa mờ những khác biệt đôi bên nhưng không bên nào chịu hiểu bên nào. Ví dụ, nữ quyền cực đoan như Adrienne Rich vô cùng tức giận khi nữ quyền bình đẳng không công nhận sự tồn tại của đồng tính nữ. Thêm vào đó, có một sự cách biệt về tuổi tác, giai cấp và chủng tộc giữa hai nhóm. Nữ quyền bình đẳng là những phụ nữ da trắng, lớn tuổi trong khi nữ quyền cực đoan đa dạng hơn, dù phần lớn cũng là người da trắng.

Tuy nhiên, làn sóng thứ hai đã thành công ở một số mặt. Một vài thành tựu quan trọng là họ có thêm các cơ hội việc làm qua Ủy ban Cơ hội Lao động Bình đẳng, cải thiện quyền ly hôn, tăng số phụ nữ tranh cử chính trị, hợp pháp hóa nạo phá thai. Thêm vào đó, làn sóng thứ hai dẫn đến sự thay đổi thái độ về vai trò của phụ nữ trong xã hội, vậy nên họ có thể được làm việc bên ngoài và thay đổi vai trò giới của mình.

Tuy nhiên, những người kế thừa làn sóng thứ hai không chiếm tất cả các nhóm phụ nữ, và họ nhận ra rằng “phong trào đòi quyền phụ nữ này” không thừa nhận những phụ nữ thuộc giai cấp dưới, không phải người da trắng. Do đó, làn sóng nữ quyền thứ ba khởi đầu vào giữa những năm 1990 là lời hồi đáp đối với những thất bại của làn sóng thứ hai.

Có ba khác biệt chính giữa hai làn sóng. Thứ nhất, làn sóng thứ ba bị ảnh hưởng bởi phê bình học thuật ví dụ như chủ nghĩa hậu hiện đại và lí thuyết “queer”. Điều này có nghĩa làn sóng thứ ba nhận thức về cách sử dụng ngôn từ và sự phục tùng theo cấu trúc giới, dẫn đến sự tập hợp của queer và những nhân dạng khác bên ngoài chuẩn mực người hợp giới, dị tính. Ví dụ, làn sóng thứ ba ủng hộ những cá nhân chuyển giới bị bỏ quên bởi phần lớn các nhà nữ quyền trước đó.

intersectionalitystick_ed

 

Thứ hai, làn sóng thứ ba hướng đến “tính liên tầng” (intersectional). Tính liên tầng xét đến các cấu trúc xã hội liên quan đến nhau bao gồm chủng tộc, giai cấp, giới, xu hướng tính dục và các đặc điểm định dạng khác. Nó phê bình những trải nghiệm của các nhân dạng liên tầng khác biệt như một phụ nữ da đen với một phụ nữ da trắng, thừa nhận rằng người da đen sẽ đối mặt với sự áp chế phức tạp hơn người da trắng. Nữ quyền liên tầng là chìa khóa của làn sóng thứ ba vì nó thừa nhận thế giới quan hạn chế của những làn sóng của người da trắng, trung lưu và dị tính trước đây.

Cuối cùng, làn sóng thứ ba khẳng định lại những hình ảnh phân biệt giới tình truyền thống và định nghĩa lại thế nào mới là phụ nữ. Những vở kịch như “Độc thoại âm đạo” đưa từ “âm đạo” vào trong văn hóa đại chúng. Các biểu tượng như Madonna và Queen Latifah tìm cách thể hiện hình ảnh phụ nữ quyền lực và mạnh mẽ thay vì nhút nhát và thụ động như thông thường. Thực tế, làn sóng thứ ba cũng được gọi là “nữ quyền grrrl” vì nó thúc đẩy phụ nữ tự định nghĩa vẻ đẹp của mình thay vì là trở thành công cụ cho ham muốn của đàn ông.

Tuy nhiên, “Độc thoại âm đạo” củng cố tư tưởng rằng là phụ nữ thì là phải có âm đạo, nghĩa là phủ nhận các nhân dạng chuyển giới. Một vài người thẳng thắn cho rằng định nghĩa này về phụ nữ chỉ có lợi cho phụ nữ hợp giới, nhưng phủ nhận quyền của người chuyển giới. Những phê bình này dẫn đến sự nổi dậy của làn sóng nữ quyền thứ tư.

Làn sóng nữ quyền thứ tư không thường được công nhận là tách biệt khỏi làn sóng thứ ba do hai làn sóng có nhiều điểm tương đồng. Tuy vậy, nó khác biệt so với làn sóng trước vì nó ưu tiên phê bình nữ quyền trong diễn ngôn đại chúng qua không gian công và mạng truyền thông xã hội. Các phong trào yêu thương cơ thể, nâng cao nhận thức về tấn công tình dục và phản đối xúc phạm nạn nhân cưỡng hiếp là các ví dụ làn sóng thứ tư đưa nữ quyền vào tiêu điểm công chúng qua bàn tay của những người không phải học giả.

9456005.jpg

Một vài người tin rằng khía cạnh quan trọng nhất của làn sóng thứ tư là cách nó tận dụng mạng Internet và truyền thông xã hội, tạo ra văn hóa “bóc phốt” nơi những nhà nữ quyền tập trung vào vi chính trị và ngôn từ hàng ngày trên mạng. Một ví dụ là phong trào #metoo (#tôicũngvậy), sử dụng hashtag để tuyên truyền nhận thức về vấn đề nữ quyền.

Chúng ta phải thừa nhận rằng những làn sóng nữ quyền trước đây được xây dựng từ thành quả sớm nhất của phụ nữ để hiểu rõ hơn nữ quyền ngày nay nằm ở đâu và tương lai sẽ đi về đâu.

Source: Femmagazine

Leave a Reply