Nam giới đang kiểm soát nền kinh tế, chính trị, tôn giáo, xã hội và văn hóa như thế nào?

Phân tích về cơ cấu tổ chức chính trong xã hội chỉ ra rằng chúng đều theo chế độ phụ quyền một cách tự nhiên. Gia đình, tôn giáo, truyền thông, luật pháp là trụ cột của hệ thống và cấu trúc phụ quyền. Hệ thống này có kết cấu chặt chẽ và lan sâu khiến chế độ phụ quyền dường như không thể loại bỏ được, và thậm chí là hiện hữu một cách rất tự nhiên. Hãy cùng phân tích từng cấu trúc phụ quyền riêng biệt.

  1. Gia đình

Cấu trúc gia đình là nền tảng cơ bản của xã hội, có lẽ là nơi đậm tính chất phụ quyền nhất. Người đàn ông được xem là trụ cột của gia đình, nơi mà anh ta có quyền kiểm soát tính dục của phụ nữ , khả năng lao động hoặc sản xuất, tái sản xuất và quyền đi lại của phụ nữ. Trong một hệ thống cấp bậc mà người đàn ông được coi là ưu việt và có quyền lực hơn, người phụ nữ trở nên thấp kém và phụ thuộc. Gia đình cũng là nhân tố quan trọng trong việc xã hội hóa thế hệ tiếp theo theo khuôn mẫu gia trưởng. Gia đình là nơi chúng ta có những bài học đầu tiên về hệ thống cấp bậc, sự phục tùng, sự phân biệt đối xử. Người con trai học cách khẳng định vị thế của bản thân và nắm quyền kiểm soát, người con gái học cách nghe lời, và chấp nhận sự đối xử không công bằng. Cho dù sự bành trướng và tự nhiên hóa sự kiểm soát của người đàn ông có thể khác biệt trong mỗi gia đình, nhưng nó luôn tồn tại.

Theo Gerda Lerner, gia đình đóng một vài trò quan trọng trong việc tạo ra hệ thống cấp bậc và giữ trật tự đó trong xã hội. Bà từng viết rằng: “Gia đình không chỉ đơn thuần phản ánh trật tự xã hội và giáo dục trẻ em phải tuân theo nó, mà còn đồng thời tạo ra và củng cố trật tự đấy.”

2. Tôn giáo

Hầu hết những tôn giáo hiện đại đều theo chế độ phụ quyền, khẳng định quyền lực tối cao của người đàn ông. Họ thiết lập trật tự phụ quyền như là quyền lực siêu nhiên của đấng tối cao. Các nguyên tắc quyền lực của phụ nữ tồn tại trước sự phát triển của các tôn giáo được thể chế hóa đang dần dần suy yếu, các nữ thần dần bị thay thế bởi những vị thần là nam. Tất cả những tôn giáo chính được hình thành, diễn giải và kiểm soát bởi những người đàn ông ở tầng lớp cao và thượng lưu; họ định nghĩa đạo đức, cách hành xử, thậm chí luật pháp; họ đề ra những bổn phận lẫn quyền lợi của người đàn ông và phụ nữ cùng mỗi quan hệ giữa họ. Họ có ảnh hưởng đến chính sách quốc gia và tiếp tục trở thành lực lượng trọng yếu trong hầu hết loại hình xã hội; ở Nam Á, quyền lực và sự hiện diện của nam giới là vô cùng lớn. Tại Ấn Độ, danh tính pháp lý của một người liên quan đến việc kết hôn, li hôn và thừa kế tài sản đều bị quyết định bởi tôn giáo của họ.

Đây là phân tích đầy đủ chỉ ra cách mà các tôn giáo coi người phụ nữ kém cỏi hơn, dơ bẩn và tội lỗi; cách mà họ tạo ra chuẩn mực kép về đạo đức và cách hành xử; cách mà luật của các tôn giáo bào chữa cho việc sử dụng bạo lực đối với những người phụ nữ không tuân theo chuẩn mực thông thường; cách mà những mối quan hệ không công bằng lại được phê chuẩn và hợp pháp hóa bằng cách sử dụng các tín ngưỡng tôn giáo và những giáo lí cơ bản.

3. Hệ thống luật pháp

Hệ thống luật pháp ở hầu hết các quốc gia đều theo chế độ tư sản và phụ quyền, ví dụ, nó ủng hộ đàn ông và những tầng lớp có quyền lực kinh tế. Những luật pháp liên quan đến gia đình, kết hôn và thừa kế tài sản đều có liên kết chặt chẽ tới sự kiểm soát một cách gia trưởng đối với tài sản. Tại Nam Á mọi hệ thống hợp pháp đều xem đàn ông là trụ cột của gia đình, người giám hộ đương nhiên của trẻ em và là người thừa kế tài sản đầu tiên. Hệ thống của pháp luật, bộ máy tư pháp, thẩm phán và luật sư đều có sự hiện diện của tính phụ quyền trong thái độ và cách họ diễn giải luật pháp.

4. Hệ thống kinh tế và thể chế kinh tế

Trong một hệ thống kinh tế phụ quyền, đàn ông kiểm soát nền kinh tế, sở hữu hầu hết tài sản, định hướng trực tiếp các hoạt động kinh tế và xác định giá trị của các hoạt động sản xuất khác nhau. Hầu hết những công việc được thực hiện bởi phụ nữ đều không được công nhận và trả lương; đóng góp của họ vào việc tạo ra thặng dư bị coi là “ công việc vô hình” bị đánh giá thấp và công việc nhà hoàn toàn không được tính giá trị xứng đáng. Thêm nữa, vai trò của phụ nữ như là người duy trì nòi giống và chăm sóc trẻ em và những giá trị lao động này hoàn toàn không được coi là đóng góp vào nền kinh tế.

5. Hệ thống và thể chế chính trị

Hầu hết các thể chế trong xã hội, ở mọi cấp độ đều do đàn ông kiểm soát, từ các cấp địa phương cho đến quốc hội. Chỉ có rất ít phụ nữ làm việc trong các đảng phái chính trị và những tổ chức có vai trò ra quyết định những vấn đề của đất nước. Khi một số phụ nữ muốn ứng cử vào những vị trí chính trí quan trọng ( Sirimavo Bandaranaike, Indira Gandhi, Benazir Bhutto, Khaleda Zia ) thì ít nhất là lúc bắt đầu, họ làm vì có liên kết với những cá nhân nam giới hoạt động chính trị, và họ hoạt động trong các cấu trúc và nguyên tắc mà nam giới đặt ra. Cho dù là nơi trên thế giới có tỷ lệ nữ cấp cao trong bộ máy nhà nước, thì ở Nam Á, tỷ lệ nữ trong quốc hội cũng không bao giờ quá 10%.

6. Truyền thông

Truyền thông là công cụ đắc lực nằm trong tay của những người đàn ông tầng lớp thượng lưu, có quyền lực truyền bá hệ tư tưởng về giai cấp và giới. Từ phim ảnh đến truyền hình, tạp chí, báo đài, hình ảnh của phụ nữ luôn đầy định kiến và bị xuyên tạc. Thông điệp về việc đàn ông đẳng cấp hơn còn phụ nữ thì thấp kém hơn liên tục được lặp lại, bạo lực với phụ nữ nhiều tới mức khó kiểm soát, đặc biệt trong phim ảnh. Ở những phương diện khác, phụ nữ thiếu tính đại diện trong truyền thông, một cách chuyên nghiệp, và thành kiến trong báo cáo, tần suất phủ sóng, quảng cáo và thông điệp vẫn còn phân biệt giới tính.

7. Hệ thống kiến thức và giáo dục

Từ khi việc học tập và giáo dục được tiêu chuẩn và hệ thống hóa, nam giới nắm quyền kiểm soát toàn bộ lĩnh vực học thuật: triết học, thần học, luật pháp, văn học, nghệ thuật và khoa học. Nam giới chiếm lĩnh việc tạo ra kiến thức và đẩy những kiến thức, kinh nghiệm và chuyên môn lẫn khát vọng của phụ nữ trở nên ít quan trọng và kém quyền lực.

Trong nhiều nền văn hóa, phụ nữ bị ngăn cản một cách có hệ thống trong việc học sách kinh thánh, thậm chí đến ngày nay cũng chỉ có rất ít phụ nữ được phép diễn giải tôn giáo và những văn bản pháp luật. Gerda Lerner nói rằng: “Chúng ta đã và đang nhìn thấy cách đàn ông hợp lý hóa và chuyển đổi các biểu tượng chính về quyền lực của phụ nữ: quyền lực của Đứa Mẹ và thần sinh sản. Chúng ta đã và đang nhìn thấy cách đàn ông xây dựng hệ thống thần thánh dựa trên phép ẩn dụ không có thật về khả năng sinh sản của nam giới và định nghĩa lại sự tồn tại của người phụ nữ theo một cách hạn hẹp và bị phụ thuộc tình dục. Chúng ta đã thấy rằng cuối cùng, phép ẩn dụ giới thể hiện giống đực là chuẩn mực còn giống cái là sai trái, đàn ông là sự toàn vẹn và quyền lực còn phụ nữ thì thiếu sót, chưa hoàn thiện và thiếu quyền tự trị. Trên cơ sở xây dựng biểu tượng như vậy, đàn ông lí giải thế giới theo lí tưởng của họ và xác định những câu hỏi quan trọng để biến mình thành trung tâm”.

Theo một số nhà hoạt động nữ quyền, tư tưởng và kiến thức phụ quyền được xác định bởi sự phân mảnh, đối lập, và nhị nguyên luận. Chế độ phụ quyền phản đối tâm trí với vật chất, cá nhân với người khác, lý trí và cảm xúc. Trong đó sẽ có một mặt được đánh giá cao hơn mặt kia. Hệ thống kiến thức phụ quyền cũng được nhìn nhận để nhấn mạnh sự chuyên môn hóa, khoanh vùng một cách hạn hẹp và phân mảnh hiện tượng khiến ta không thấy sự trọn vẹn của nó.

Đàn ông thống lĩnh tri thức và giáo dục đã tạo ra và duy trì hệ tư tưởng phụ quyền. Đàn ông và phụ nữ hành xử, suy nghĩ, và có những mong muốn khát khao khác nhau bởi họ được dạy để nghĩ như nam giới và nữ giới theo những trường hợp khác biệt.

 

 

Leave a Reply