Đàn ông đang kiểm soát những gì trong chế độ phụ quyền?

 

1. Năng suất lao động hay quyền lao động của phụ nữ

 

Đàn ông kiểm soát năng suất của phụ nữ trong cả công việc nhà và công việc được trả lương ngoài xã hội. Trong gia đình, phụ nữ cung cấp tất cả các dịch vụ miễn phí cho chồng, con cái và tất cả các thành viên khác trong gia đình trong suốt cả cuộc đời họ – tất cả công sức lao động của phụ nữ đều bị tước đoạt bởi người chồng và những người khác xung quanh. Những người phụ nữ nội trợ thuộc tầng lớp lao động sản xuất, trong khi người chồng thuộc tầng lớp bóc lột, chiếm đoạt. Những công việc lặp đi lặp lại và không có hồi kết của phụ nữ không được coi như là “công việc” và những người vợ nội trợ dường như phải phụ thuộc vào người chồng.

Người đàn ông cũng kiểm soát công việc của phụ nữ ở ngoài xã hội theo một vài cách khác nhau. Họ bắt người phụ nữ của họ bán sức lao động hoặc ngăn cản người phụ nữ ra ngoài làm việc. Họ có thể cho phép, chấp thuận việc phụ nữ có thể làm gì hoặc trực tiếp cho phép một cách có chọn lọc việc phụ nữ được đi làm hay không. Tiếp đến, phụ nữ bị loại trừ ra khỏi những công việc được trả lương tốt hơn, họ  bị ép buộc bán sức lao động với giá rẻ mạt; hoặc làm công việc trong gia đình không được trả lương – một hệ thống bóc lột kinh khủng nhất.

Sự kiểm soát quá mức và khai thác sức lao động của phụ nữ cũng đồng nghĩa với việc người đàn ông đạt được những lợi ích vật chất từ chế độ phụ quyền; họ củng cố nền tảng kinh tế  nền bằng sự lệ thuộc của người phụ nữ. Nói cách khác, đây là cơ sở vật chất cho chế độ phụ quyền.

2. Quyền sinh sản của phụ nữ

Đàn ông cũng kiểm soát quyền sinh sản của phụ nữ. Trong nhiều cộng đồng xã hội, phụ nữ không có tự do trong việc quyết định họ muốn có bao nhiêu đứa con và khi nào có con, hay việc sử dụng các biện pháp tránh thai hoặc ngừng việc mang thai,… Ngoài sự kiểm soát đơn lẻ của từng cá nhân, những đàn ông đang giữ vị trí thống trị ở các cộng đồng như nhà thờ hay nhà nước ( ví dụ tôn giáo và chính sách ) còn đặt ra những quy định về khả năng sinh sản phụ nữ. Đây gọi là thể chế hóa sự kiểm soát. Ví dụ, trong nhà thờ Công giáo, hệ thống tôn giáo quyết định đàn ông và phụ nữ có thể sử dụng các biện pháp tránh thai không, biện pháp nào được cho phép, phụ nữ có được phá thai trong trường hợp mang thai không mong muốn không và nhiều điều nữa. Cuộc đấu tranh bền bỉ của phụ nữ cho quyền tự do lựa chọn khi nào, có hay không có thai và có bao nhiêu đứa con, thực tế vẫn đang diễn ra tại mỗi quốc gia trên thế giới là một chỉ số cho thấy quyền lực to lớn của việc kiểm soát và đàn ông đang miễn cưỡng từ để bỏ nó như thế nào.

Trong thế kỉ hiện đại, những quốc gia phụ quyền cố gắng để kiểm soát khả năng sinh sản của phụ nữ thông qua chương trình kế hoạch hóa gia đình. Quốc gia đó quyết định kích cỡ dân số lí tưởng và dựa vào để để khuyến khích hay ngăn cản việc người phụ nữ có con. Ấn Độ có một chương trình kế hoạch hóa sinh đẻ vô cùng gay gắt, quyết liệt để giới hạn số thành viên trong gia đình. Tại Malaysia, phụ nữ bị thúc giục phải có nhiều con để đáp ứng được kích cỡ thị trường lao động nội địa cho nền công nghiệp sản phẩm của quốc gia. Tại châu Âu, nơi tỉ lệ sinh rất thấp, phụ nữ được khích lệ bằng nhiều cách để có nhiều con hơn. Họ được trả đủ lương và có kì nghỉ sinh dài ngày, có cơ hội kiếm việc làm bán thời gian, có cơ sở vật chất để chăm sóc con cái,…; một số quốc gia thậm chí còn có ”kì nghỉ sinh cho nam giới”. Ý thức hệ và chính sách nhà nước cũng thay đổi dựa trên nhu cầu lao động của nền kinh tế. Ví dụ, sau thế chiến thứ 2, khi cần nguồn lực để tái xây dựng đất nước, phụ nữ được kêu gọi đi làm và tham gia xây dựng đất nước. Ngược lại, tại Anh, khi chiến tranh kết thúc thắng lợi, những người phụ nữ đã chiến đấu quả cảm ngoài tiền tuyến được yêu cầu quay trở về gia đình để những người đàn ông tiếp tục tham gia vào những hoạt động trong thời bình. Thời kì bùng nổ trẻ sơ sinh nổi tiếng những năm 1950 ở Mỹ là một minh chứng cho điều đó, và cho sự cổ xúy tiềm tàng của chính phủ về ý thức hệ về bản năng làm mẹ.

Ý thức hệ của bản năng làm mẹ này là trung tâm để phân tích nguồn gốc của nữ quyền về vị trí người phụ nữ. Dựa vào đó, phụ nữ bị nô dịch bởi gánh nặng làm mẹ và nuôi dưỡng đứa trẻ bị gán cho họ, và chỉ gán cho mỗi họ, bởi xã hội phụ quyền. Việc “làm mẹ” bị ép buộc bằng việc tước đoạt những người phụ nữ trẻ khỏi việc tiếp cận đầy đủ các thông tin về phòng tránh thai; các phương pháp tránh thai sẵn có bất tiện, khó sử dụng thực tế, đắt đỏ và đôi khi còn nguy hiểm. Chế độ phụ quyền giới hạn việc nạo phá thai đồng thời tìm cách phủ nhận hoàn toàn điều đó, nhưng đồng thời, lại áp đặt lên phụ nữ một áp lực nặng nề và dai dẳng phải tham gia vào các mối quan hệ tình dục.

Hơn thế nữa, chế độ phụ quyền không chỉ ép buộc người phụ nữ trở thành mẹ, mà nó đặt ra các điều kiện để trở thành mẹ. Ý thức hệ về bản năng làm mẹ này được xem như là một trong những sự đàn áp phụ nữ bởi nó tạo ra tính nam và tính nữ – thứ đang kéo dài chế độ phụ quyền; nó tạo ra và củng cố sự phân cách giữa cá nhân và xã hội, nó hạn chế tính linh hoạt và sự phát triển của người phụ nữ và nó tái sản xuất sự thống trị của nam giới.

 

3. Kiểm soát khả năng tình dục của phụ nữ.

 

Đây là một khía cạnh quan trọng khác về sự lệ thuộc của phụ nữ. Phụ nữ có nghĩa vụ cung cấp dịch vụ tình dục cho người đàn ông của họ tuân theo nhu cầu và mong muốn của người đàn ông đó. Một hệ thống luật pháp và đạo đức tồn tại để ngăn cản sự thể hiện bản năng tình dục của phụ nữ ngoài mối quan hệ hôn nhân trong mọi xã hội, trong khi đó, việc đàn ông quan hệ tình dục với nhiều người lại được bỏ qua. Một kết cục khác của mô hình này là người đàn ông có thể ép buộc vợ, con gái hoặc những người phụ nữ khác trong quyền kiểm soát của họ trở thành gái mại dâm, trao đổi tình dục. Hãm hiếp và đe dọa bị hãm hiếp là một phương thức khác mà ở đó, khả năng tình dục của phụ nữ bị thống trị, kiểm soát bởi những lời lẽ về “sự nhục nhã” và “danh dự”. Nhằm để kiểm soát khả năng tình dục của phụ nữ, trang phục, cách hành xử và quyền đi lại của họ được giám sát cẩn thận bởi những quy tắc ứng xử trong gia đình, xã hội, văn hóa và tôn giáo.

Phân tích nguồn gốc của nữ quyền nói rằng phụ nữ dưới chế độ phụ quyền không chỉ làm mẹ, mà họ còn là nô lệ tình dục, và hệ tư tưởng phản đối bản năng tình dục của phụ nữ trái ngược với bản năng làm mẹ. Văn hóa của nam giới định nghĩa phụ nữ như là một công cụ tình dục thỏa mãn nhu cầu của đàn ông. Theo đó, hiếp dâm có thể sẽ không tồn tại trong mọi xã hội mà chỉ là hình thái định nghĩa của chế độ phụ quyền. Nếu xem hiếp dâm là một công cụ chính trị hiệu quả, một hành động áp bức chính trị lên những người có địa vị thấp hơn được thực hiện bởi những người ở tầng lớp có quyền lực: nữ quyền cấp tiến cũng tập trung chú ý đến thể chế hóa mại dâm, khiêu dâm và ép buộc tình dục khác giới như là một ví dụ khác của việc kiểm soát bản năng tình dục của phụ nữ dưới chế độ gia trưởng.

4. Quyền đi lại của phụ nữ

Nhằm kiểm soát khả năng tình dục, sản xuất và tái sản xuất của phụ nữ, đàn ông phải kiểm soát quyền đi lại của phụ nữ. Sự hạn chế việc rời khỏi không gian gia đình, sự tách biệt nghiêm ngặt giữa cá nhân và xã hội bên ngoài, giới hạn sự tương tác với những người khác giới, và còn nhiều nữa, tất cả đều để kiểm soát sự tự do và quyền đi lại của phụ nữ, làm nhấn mạnh các đặc điểm giới tính chỉ áp dụng duy nhất cho phụ nữ, bởi vì đàn ông không phải chịu sự ràng buộc tương tự như vậy.

5. Tài sản và những nguồn lực kinh tế khác

Hầu hết tài sản và những nguồn lực sản xuất khác đều được kiểm soát bởi đàn ông và họ chuyển từ người đàn ông này sang người đàn ông khác, thông thường là từ cha sang con trai. Thậm chí ở những nơi mà phụ nữ có quyền hợp pháp để thừa kế tài sản, những tập quán xã hội, áp lực về cảm xúc, khế ước xã hội và đôi khi, là bạo lực đơn giản cũng ngăn người phụ nữ có sự kiểm soát thực sự đối với tài sản. Trong nhiều trường hợp, những luật của cá nhân lại giới hạn quyền của họ hơn là nâng cao quyền của họ. Trong mọi trường hợp, họ đều gặp bất lợi.  Điều này đã được minh họa trong thống kê của Liên Hợp Quốc.: “Phụ nữ làm hơn 60 % tổng số giờ làm việc trên toàn thế giới, nhưng chỉ nhận lại 10%  tổng thu nhập và sở hữu 1% tài sản trên thế giới.”

Leave a Reply