Cần thay đổi những ngôn ngữ mang tính phân biệt giới

Chú thích: bài viết này trên diễn giải cách sử dụng ngôn từ trong tiếng anh khi trong những từ đang sử dụng chung cho lại có tiền tố “man” như mankind, chairman, sport man,…

Nhưng các nhà hoạt động nữ quyền có cần thiết phải quan tâm đến những thứ nhỏ nhặt vậy không? Ví dụ liệu có vấn đề gì nếu gọi một người phụ nữ là “nam chủ tịch” không? Và có chắc chắn rằng chúng ta không thể thay đổi mọi thứ?

Câu hỏi thường được đặt cho các nhà nữ quyền là: liệu có cần phải quan tâm đến những thứ nhỏ nhặt như vậy không? Có vấn đề gì nếu gọi một người phụ nữ là “nam chủ tịch” (chair man) không? Không thể nào thay đổi mọi thứ được.

Đầu tiên, mặc dù ngôn ngữ chưa bao giờ là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh không có một chiến dịch nào bàn luận về nó, nhưng nữ quyền thực sự cho rằng việc thay đổi diễn ngôn là vô cùng quan trọng bởi ngôn từ cũng mang tính chất của chế độ phụ quyền.

Ngôn ngữ và lời nói là vô cùng quan trọng và phải công nhận rằng ngôn ngữ của chúng ta đang mang tính phân biệt giới, nó đề cao sự vượt trội của nam giới và đồng thời loại bỏ và hạ thấp người phụ nữ.

Kể từ khi ngôn ngữ, giống như tôn giáo và các hệ tư tưởng, đang kéo dài sự thiên vị nam giới và góc nhìn của nam giới, thì tại sao phụ nữ lại phải chấp nhận thứ đang phân biệt đối xử, xúc phạm họ và đang không công nhận sự tồn tại cũng như đóng góp của họ với xã hội?

Trước đó, khi phụ nữ không được tham gia vào những lĩnh vực của đời sống công, ví dụ như khi không có một người phụ nữ nào làm giám đốc, vận động viên thể thao, nhà báo, và không có người phụ nữ nào là nhà khoa học, nhà thần học, thì ngôn ngữ phản ánh sự thật bằng việc tạo ra ngôn từ như nam chủ tịch, nam vận động viên thể thao, nam nhà báo,… Tuy nhiên, ngày nay mọi khía cạnh của ngôn ngữ đã trở nên lỗi thời bởi sự thay đổi của thực tế xã hội. Kể từ khi phụ nữ gia tăng sự hiện diện của mình trong các lĩnh vực hoạt động, không có lí do gì để không xuất hiện những từ chỉ giới tính chung như giám đốc, vận động viên thể thao,… hoặc ngôi thứ 3 như “ cô ấy” , “ bản thân cô ấy”, và “ của cô ấy”.

Không mất nhiều nỗ lực để thực hiện sự công bằng về ngôn ngữ cho phụ nữ; nhưng tất cả những đều cần phải nhận thức về sự không phù hợp trong ngôn từ và cần phải nỗ lực để trở thành một phần của ngôn từ và nhận thức. Tuy nhiên, như một trò đùa, đôi khi nữ quyền sẽ gặp những người nói rằng tại sao lại chẳng nhấn mạnh vào việc thay đổi những từ như thú ăn thịt người ( man-eater ) và nắp cống ( manhole ).

Dưới đây là một vài ví dụ về cách sử dụng từ trong tiếng anh đang mang tính phân biệt giới:

* đàn ông với nhau ( man to man ) * nhân lực (manpower) * thợ thủ công ( craftsman ) * * người lao động ( working man ) * người có suy nghĩ  ( thinking man ) * người vô gia cư  ( man in the street ) * đồng bào ( fellow countryman ) * lịch sử loài người ( the history of mankind ) * tổ tiên (forefathers) * chúa (god of father) * kiệt tác (masterpiece) * tình đồng loại (brotherhood) * con người (human being)

Source: Feminism and Its Relevance in South Asia – Kamla Bhasin and Nighat Said Khan

Leave a Reply