Mối liên hệ giữa giới và giới tính

Giới và giới tính quả thực có mối liên hệ gần gũi. Tuy nhiên, chỉ đến một mức độ nhất định đó thôi. Cơ thể phụ nữ có thể sinh con, cho con bú và có kinh nguyệt (dù không phải tất cả phụ nữ đều như vậy). Thế nhưng, ngoài ba việc trên, không có điều gì chỉ phụ nữ làm được còn đàn ông thì không và ngược lại. Sinh con không có nghĩa rằng chỉ có phụ nữ mới có thể hoặc nên chăm con. Đàn ông cũng có thể làm tốt việc chăm sóc con cái. Vì thể, việc có cơ thể mang giới tính nam hay giới tính nữ đều không nhất thiết quyết định điểm đặc biệt, vai trò hay số mệnh của chúng ta.

Nhưng trong thực tế, khá khó để có thể thiết lập được điều gì là tự nhiên và điều gì là do xã hội tạo dựng nên, bởi vì ngay từ khi đứa trẻ được sinh ra, gia đình và xã hội đã ngay lập tức bắt đầu quá trình xã hội hóa giới. Ở rất nhiều các nền văn hóa tại Nam Á, sự ra đời của một bé trai thì được chào đón còn sự ra đời của một bé gái thì chìm trong những tiếng than vãn. Các cậu ấm thì được tắm mình trong những lời ngọt ngào, yêu thương, sự tôn trọng, được hưởng thức ăn tốt hơn và chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Các bé trai thường được khuyến khích sự mạnh mẽ và cởi mở trong khi các bé gái được khuyến khích phải giữ vẻ đoan trang, nền nã và phải gắn bó với gia đình.

Cơ thể của các bé gái không hề cản trở các em mặc quần đùi, trèo cây hay đi xe đạp và tương tự, cơ thể các bé trai cũng không cấm các em chơi với búp bê, giúp đỡ việc nấu ăn hay dọn dẹp nhà cửa. Tất cả những sự khác biệt thực chất đều là sự khác biệt về giới được tạo nên bởi xã hội. Bằng chứng cho thấy giới là một đặc tính văn hóa và xã hội chứ không phải tự nhiên chính là nó liên tục thay đổi theo thời gian, theo các vùng miền khác nhau và các nhóm xã hội khác nhau. Ví dụ, một bé gái ở tầng lớp trung lưu có thể sẽ bị giới hạn ở nhà và ở trường học trong khi các bé gái ở các bộ tộc lại có thể tự do lang thang trong rừng, chăn dắt gia súc, hay trèo cây hái hái quả vặt cành vặt lá. Cả hai đều là con gái nhưng các em lại phát triển các khả năng khác nhau, có khát vọng và mục tiêu khác nhau, mặc cho sự thật rằng cơ thể của các em hoàn toàn giống nhau.

Tương tự, ngày xưa, các em gái thường không được phép tới trường hay ra khỏi nhà khi các em bắt đầu tuổi 10, 11 và thường bị ép tảo hôn ở độ tuổi dậy thì. Nhưng bây giờ, mọi thứ đã thay đổi. Cũng như vậy, việc dạy dỗ, vai trò và trách nhiệm đối với nam giới cũng ít nhiều thay đổi. Điều đó có nghĩa là khi chúng ta nói giới luôn biến hóa, giới có thể khác nhau trong các gia đình, cộng đồng khác nhau và tại các thời điểm khác nhau trong cùng một gia đình.

Ngay cả cơ thể của chúng ta cũng có thể bị định hình và thay đổi bới chính chúng ta, xã hội và văn hóa. Chúng ta có thể thay đổi kích cỡ, hình dáng và sức khỏe của chính mình thông qua việc tập luyện, sử dụng, không sử dụng, sử dụng sai hay lạm dụng. Có thể kể đến những ví dụ rất rõ ràng như cơ thể của các nam và nữ đấu vật, tập thể hình, vận động viên, diễn viên múa, người tập yoga và v.v.

Tương tự, cơ thể của phụ nữ có thể sinh nở nhưng chúng ta bây giờ có sinh hay không, sinh bao nhiêu và cách bao lâu thì sinh tiếp. Sinh nở không phải tất yếu đối với phụ nữ cũng như với bất kì động vật giống cái nào khác.

Nếu như phụ nữ có thể nấu ăn, đàn ông cũng có thể làm được, vì phụ nữ đâu có nấu ăn bằng tử cung!

Hệ quả của việc này chính là sự khác biệt về các địa vị của nam giới và nữ giới trong xã hội đều được định trước bởi xã hội và văn hóa, đó là điều là con người tạo ra chứ không phải do tự nhiên. Đó là giới chứ không phải giới tính đã quyết định rằng: (gần như) mọi nơi, phụ nữ được coi là nhóm yếu thể hơn nam giới. Họ hưởng ít quyền lợi, quyền lực hơn nam giới, làm việc trong thời gian dài hơn nam giới nhưng công việc của họ thường được ít coi trọng và bị trả lương ít hơn. Họ phải đối mặt với bạo lực có hệ thống dưới bàn tay của đàn ông và xã hội; họ có ít quyền quyết định trong các lĩnh vực liên quan tới xã hội, kinh tế và chính trị.

“ Không có một trật tự xã hội nào trong lịch sử đã mở rộng, bóp méo và lợi dụng những sự khác biệt tự nhiên về giới tính một cách hung ác và có hệ thống như xã hội của loài người. Trật tự này đã trước hết biến đổi ‘giới tính do tạo hóa sinh ra’ thành ‘giới do xã hội tạo ra’, tạo ra “đàn ông” từ đàn ông và tạo ra “phụ nữ” từ phụ nữ – và trong thực tế, nó biến “đàn ông” thành “con người” còn phụ nữ thì chỉ đơn giản là một giới tính… Và cuối cùng, sau khi đã tạo ra những sự khác biệt này, trật tự ấy lại một lần nữa tuyên bố những sự khác biệt này là tự nhiên, để tận dụng những khác biệt này cho mục tiêu bóc lột kinh tế.” – Claudia von Werlhof

Mọi xã hồi đều đặt ra các quy chuẩn khác nhau cho các bé trai và bé gái, cũng như đàn ông và phụ nữ. Các quy chuẩn ấy quyết định mọi khía cạnh trong cuộc đời và tương lai của họ. Hãy cùng nhìn vào những ví dụ rõ ràng hơn dưới đây.

Ăn mặc

Các bé trai và các bé gái ăn mặc khác nhau trong hầu hết mọi xã hội. Tại một vài nơi, sự khác biệt này có thể nhỏ hơn nhưng đa phần đều vô cùng rõ ràng. Trong một vài cộng đồng, phụ nữ phải che đi cơ thể từ đầu đến chân, bao gồm cả gương mặt của họ. Cách ăn mặc có thể và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sự di chuyển, cảm giác tự do và nhân phẩm của con người.

Đặc tính

Trong hầu hết mọi xã hội, phụ nữ thường được kì vọng phải có và phải hoàn thiện mọi phẩm chất như dịu dàng, chăm sóc, nuôi dưỡng và nghe lời; đàn ông thường được kì vọng phải khỏe mạnh, tự tin, cạnh tranh và lý trí. Vasanth Kannabiran, nhà nữ quyền người Ấn Độ đã từng nói trong một buổi tập huấn về giới: “Nuôi dưỡng một đứa trẻ được coi là tự nhiên và mặc định gắn liền với phụ nữ như việc sinh con vậy… Và không chỉ với con cái của chúng ta; người ta mặc định là tình yêu và tình mẫu tử lúc nào cũng ngập tràn trong tôi, chỉ chực chờ tuôn trào như con suối đến với bất cứ ai đang cần. Phụ nữ chúng ta trở thành những người mẹ vĩnh cửu. Vì thế, chúng ta làm mẹ của con mình, của con những người khác; làm mẹ đối với chồng tôi, các anh em trai của tôi, các chị em của tôi, bố tôi thậm chí cũng gọi tôi là “bà mẹ nhí”! Với tất cả mọi người, tôi đã trở thành một người mẹ theo ý nghĩa mở rộng. Phụ nữ được kì vọng phải luôn tràn đầy tình mẹ với toàn vũ trụ này. Và người ta cho rằng thế mới là tự nhiên, chứ không ai nghĩ việc phụ nữ quan tâm, chăm sóc người khác là nỗ lực thực sự. Tình mẹ dường như dễ như thở, như ăn hay như ngủ vậy!”

Vai trò và trách nhiệm

Đàn ông thường được coi như chủ của ngôi nhà, trụ cột, người sở hữu và quản lý tài sản, có quyền quyết định trong chính trị, tôn giáo, kinh tế và sự nghiệp. Phụ nữ, mặt khác lại được hy vọng và huấn luyện như những người sinh và chăm con, chăm sóc người già và người ốm, làm mọi việc nhà, v.v Điều này quyết định trình độ học vấn của họ, sự chuẩn bị cho nghề nghiệp, v.v. Tuy nhiên, mức độ của sự khác biệt giữa vai trò của nam giới và nữ giới cũng rất đa dạng. Đôi khi, luật đời cũng chỉ mang tính chất ưu tiên. Nếu một trong hai giới tạm thời đổi vai trò, gần như không có vấn đề gì đáng băn khoăn.

“Cora du Bois báo cáo rằng tại Alor, mặc dù có rất nhiều sự khác biệt giữa vai trò về mặt kinh tế giữa hai giới tính, người ta không coi đó là thiếu khôn ngoan nếu đảm nhân công việc của giới tính kia. Thậm chí, họ được ngưỡng mộ do sở hữu những kĩ năng bổ trợ mới. Phụ nữ điều tiết nền kinh tế tự cung tự cấp còn đàn ông bận rộn với các phi vụ tài chính, nhưng cũng có rất nhiều đàn ông có hứng thú với việc làm vườn và cũng rất nhiều phụ nữ có kĩ năng tài chính tốt. Trong một vài nền văn hóa, mặt khác, nơi mà việc làm vườn được định nghĩa như đam mê theo đuổi của phụ nữ thì việc nam giới có thiên hướng thích làm vườn lại được coi như là một bằng chứng của sự lệch hướng trong giới tính. Đối với một vài nền văn hóa khác, một phạm trù đặc biệt còn được tạo nên cho những người phụ nữ xuất sắc trong việc theo đuổi những tham vọng vốn được gắn cho cả hai giới tính.” Ann Oakley 

Nhiều xã hội khác đặt nặng những vai trò giới tính hà khắc. Bộ lạc Munduruku tại miền Trung Brazil, một lần nữa theo Ann Oakley, là một ví dụ về xã hội mà tại đó sự phân cực về vai trò của 2 giới tính và các nhóm giới tính đã trở thành một yếu tố thiết yếu trong xã hội. Sự tách biệt giới tính về mặt khoảng cách và xã hội đã gần như hoàn thành: đàn ông và các bé trai, sống trong những ngôi nhà cho nam giới, tách biệt hoàn toàn với phụ nữ. Mỗi nhóm giới tính (ngoại trừ trẻ nhỏ) sẽ chỉ giao tiếp trong chính nhóm của mình và sự đối địch giữa hai nhóm này được thể hiện rất nhiều trong các phong tục và dịp lễ khác. Sự phân cực giới tính không chỉ lan tỏa khắp các công việc liên qua đến kinh tế và vai trò trong xã hội mà còn ảnh hưởng đến cả tính cách cá nhân, được thể hiện dưới vỏ bọc về sự chuyên quyền và phục tùng. Con người đã thể hiện nỗi lo lắng về khả năng tồn tại trong những khuôn mẫu giới tính và kiểu mẫu tính cách đã được định sẵn, và về niềm mong ước được vượt thoát chúng, ở trong rất nhiều các nghi lễ và văn hóa dân gian.”

Đối với người ngoài, xã hội phương Tây dường như có rất ít những khác biệt về giới, nhưng Ann Oakley đã chỉ ra: “Tại các xã hội phương Tây, giới tính chính là nguyên tắc tổ chức của cấu trúc xã hội. Ngược lại với những gì chúng ta vẫn tin, nó đóng một phần quan trọng trong việc quyết định vai trò trong xã hội.  Vì thế, không có gì bất ngờ khi người ta nhận ra rằng: giống như bộ tộc Munduruku, nhiều nỗi lo âu trong văn hóa phương Tây bắt nguồn từ những yêu cầu về vai trò của giới.”

Source: Understanding Gender – Kamla Bhasin

Leave a Reply