Ngôn ngữ có liên hệ gì với giới?

Có hay không mối liên hệ giữa giới và ngôn ngữ?

Sự thật là có. Ngôn ngữ có mang tính phụ quyền, vì vậy nó mang theo và phản ánh thành kiến về giới và sự bất bình đẳng. Đàn ông thường có vốn từ riêng của mình mà phụ nữ hiếm khi sử dụng. Ví dụ tiêu biểu nhất của điều này là những từ ngữ mang tính bạo lực chứa đầy hàm ý về tình dục mà thường được sử dụng bởi nam giới. Mặc dù đàn ông sử dụng những từ này một cách không ngần ngại, họ cảm rất sợ nếu phụ nữ cũng dùng chúng.

Ngôn ngữ của chúng ta cũng chứa đầy những tục ngữ và lời nói thể hiện rằng phụ nữ thấp kém hơn đàn ông; miêu tả nữ giới là ác độc, xấu tính và phiền phức. Trong tiếng Hindi có một cặp thơ hay được nhắc đến nói rằng cái trống, người thất học hay người thuộc tầng lớp thấp kém và phụ nữ đều xứng đáng bị đánh. “Thiên đường của phụ nữ nằm ở bàn chân người chồng” là một tục ngữ hay được nhắc đi nhắc lại bởi các maulvi (lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo)… Ở Bangla, còn có một câu nói là, “Bất hạnh của người đàn ông là khi bò của anh ta chết. May mắn của người đàn ông là khi vợ của anh ta chết”

Ngoài ra, người ta vẫn sử dụng tính nam làm chuẩn mực. ‘Nhân loại (Mankind)’, ‘anh ta (he)’ và ‘của anh ta (his)’ là những từ ngữ được dùng kể cả khi chúng ta đang nhắc đến phụ nữ. Những từ ngữ như chủ tịch (chairman), phóng viên (newsman), vận động viên (sportsman), chương trình một người (one-man-show) và hàng trăm những từ khác đều là những từ thường được sử dụng rộng rãi cho phụ nữ nắm giữ những chức vụ kể trên – tuy nhiên, điều này đang dần được thay đổi.

“Ngôn ngữ của khoa học xã hội, triết học và những thực hành khác cũng dần có tính phụ quyền và tiếp tục lờ đi, coi thường và bóp méo hình ảnh của người phụ nữ. Phương thức mà các ý tưởng trừu tượng được đúc kết thành và cách thể hiện ngôn ngữ đã được định hình để nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của phụ nữ. Phụ nữ đã phải thể hiện bản thân mình qua những ý nghĩ mang tính phụ quyền, điều này được phản chiếu rõ ràng từ thứ ngôn ngữ mà chúng ta thường sử dụng. Đó là thứ ngôn ngữ mà chúng ta phải lấy đại từ nhân xưng của nam giới mà trong đó, khi nhắc tới từ con người (human) một cách chung chung, nó có nghĩa là nam giới. Phụ nữ còn phải dùng những từ “tục tĩu” hay phải nói một cách “ẩn ý” để mô tả về trải nghiệm của chính cơ thể mình. Ngoài ra, những lời lăng mạ nặng nề nhất trong mỗi ngôn ngữ trên thế giới dùng những từ chỉ về bộ phận cơ thể của nữ giới hoặc hoạt động tình dục của phụ nữ.” Gerda Lerner

Một luận điểm nữa đáng được nhắc đến ở đây đó là một số những cách gọi và vai trò trong ngôn ngữ của chúng ta có mang tính gán ghép giới (gender ascriptive) (nơi mà giới được xây dựng lên) như chú – dì, anh trai – em gái, mẹ – cha vì ở đây chúng thể hiện giới hoặc giới tính của một người. Tuy nhiên, còn một nhóm nhiều những từ khác tuy không có tính chất gán ghép giới nhưng được cho rằng chúng đang nhắc tới nam giới hoặc nữ giới. Ví dụ như thư kí, y tá, giáo viên tiểu học là những từ mà khi nói tới, mọi người thường gắn chúng với nữ giới. Trong khi những từ như sếp, phi công, nhà quản lý, chính trị gia, bác sĩ phẫu thuật hay nông dân thì thường được gán cho nam giới. Những giả định như ví dụ trên là minh chứng rõ ràng cho thấy nghề nghiệp và những nơi công cộng vẫn tiếp tục chịu sự thống trị bởi đàn ông. Phụ nữ vẫn yếu thế hơn hẳn, nhất là trong những vị trí ra quyết định và quản lý.

Sự thật là nó có. Ngôn ngữ có mang tính phụ quyền, vì vậy nó mang theo và phản ánh thành kiến về giới và sự bất bình đẳng. Đàn ông thường có vốn từ riêng của mình mà phụ nữ hiếm khi sử dụng. Ví dụ tiêu biểu nhất của điều này là những từ ngữ mang tính bạo lực chứa đầy hàm ý về tình dục mà thường được sử dụng bởi nam giới. Mặc dù đàn ông sử dụng những từ này một cách không ngần ngại, họ cảm rất sợ nếu phụ nữ cũng dùng chúng.

Ngôn ngữ của chúng ta cũng chứa đầy những tục ngữ và lời nói thể hiện rằng phụ nữ thấp kém hơn đàn ông; miêu tả nữ giới là ác độc, xấu tính và phiền phức. Trong tiếng Hindi có một cặp thơ hay được nhắc đến nói rằng cái trống, người thất học hay người thuộc tầng lớp thấp kém và phụ nữ đều xứng đáng bị đánh. “Thiên đường của phụ nữ nằm ở bàn chân người chồng” là một tục ngữ hay được nhắc đi nhắc lại bởi các maulvi (lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo)… Ở Bangla, còn có một câu nói là, “Bất hạnh của người đàn ông là khi bò của anh ta chết. May mắn của người đàn ông là khi vợ của anh ta chết”

Ngoài ra, người ta vẫn sử dụng tính nam làm chuẩn mực. ‘Nhân loại (Mankind)’, ‘anh ta (he)’ và ‘của anh ta (his)’ là những từ ngữ được dùng kể cả khi chúng ta đang nhắc đến phụ nữ. Những từ ngữ như chủ tịch (chairman), phóng viên (newsman), vận động viên (sportsman), chương trình độc tấu (one-man-show) và hàng trăm những từ khác đều là những từ thường được sử dụng rộng rãi cho phụ nữ nắm giữ những chức vụ kể trên – tuy nhiên, điều này đang dần được thay đổi.

“Ngôn ngữ của khoa học xã hội, triết học và những thực hành khác cũng dần có tính phụ quyền và tiếp tục lờ đi, coi thường và bóp méo hình ảnh của người phụ nữ. Phương thức mà các ý tưởng trừu tượng được đúc kết thành và cách thể hiện ngôn ngữ đã được định hình để nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của phụ nữ. Phụ nữ đã phải thể hiện bản thân mình qua những ý nghĩ mang tính phụ quyền, điều này được phản chiếu rõ ràng từ thứ ngôn ngữ mà chúng ta thường sử dụng. Đó là thứ ngôn ngữ mà chúng ta phải lấy đại từ nhân xưng của nam giới mà trong đó, khi nhắc tới từ con người (human) một cách chung chung, nó có nghĩa là nam giới. Phụ nữ còn phải dùng những từ “tục tĩu” hay phải nói một cách “ẩn ý” để mô tả về trải nghiệm của chính cơ thể mình. Ngoài ra, những lời lăng mạ nặng nề nhất trong mỗi ngôn ngữ trên thế giới dùng những từ chỉ về bộ phận cơ thể của nữ giới hoặc hoạt động tình dục của phụ nữ.” Gerda Lerner

Một luận điểm nữa đáng được nhắc đến ở đây đó là một số những cách gọi và vai trò trong ngôn ngữ của chúng ta có mang tính gán ghép giới (gender ascriptive) (nơi mà giới được xây dựng lên) như chú – dì, anh trai – em gái, mẹ – cha vì ở đây chúng thể hiện giới hoặc giới tính của một người. Tuy nhiên, còn một nhóm nhiều những từ khác tuy không có tính chất gán ghép giới nhưng được cho rằng chúng đang nhắc tới nam giới hoặc nữ giới. Ví dụ như thư kí, y tá, giáo viên tiểu học là những từ mà khi nói tới, mọi người thường gắn chúng với nữ giới. Trong khi những từ như sếp, phi công, nhà quản lý, chính trị gia, bác sĩ phẫu thuật hay nông dân thì thường được gán cho nam giới. Những giả định như ví dụ trên là minh chứng rõ ràng cho thấy nghề nghiệp và những nơi công cộng vẫn tiếp tục chịu sự thống trị bởi đàn ông. Phụ nữ vẫn yếu thế hơn hẳn, nhất là trong những vị trí ra quyết định và quản lý.

Source: Kamla Bhasin – Understanding Gender

Leave a Reply